Bài 24 : Loa và mạch lọc trong loa

Loa là một thiết bị dùng chuyển đổi năng lượng xung tín hiệu điện ra dạng âm thanh lan truyền trong không khí. Để hiểu được sự vận hành của chiếc loa như thế nào, ta hãy xem sự tương tác của từ lực trong một thanh nam châm.


Một thanh nam châm có 2 cực tính: Cực Bắc ( N ), cực nam (S), khi có 2 thanh nam châm đặt gần nhau, có các cực tính hương về nhau, sẽ có hai trường hợp xảy ra
-Nếu 2 mặt hướng vào nhau cùng cực tính, hai nam châm sẽ đẩy ra xa.
-Nếu 2 mặt hướng vào nhau có cực tính khác nhau, 2 thanh nam châm sẽ hút nhau.
Một chiếc loa có cấu tạo gồm một khối nam châm và một cuông dây đồng, khối nam châm thì cố định, cuộn dây đồng thì cử động tự do trong một khe từ trường rất hẹp, khi có một tín hiệu xoay chiều đặt vào cuộn dây đồng, cuộn dây này sẽ có cực tính thay đổi liên tục theo dòng tín hiệu này và tạo thành lực hút, đẩy với khối nam châm cố định với chu kỳ giống hệt với dòng tìn hiệu xoay chiều.
Nếu ta đặt vào cuôn dây mốt tín hiệu sin, vd (440Hz) từ 1 power ampli thì dòng điện sẽ đổi chiều 440 lần trong giây và cuộn dây đồng sẽ dao động với tần số như vậy.
Trong cấu tạo của chiếc loa, cuộn dây đồng được kết dính với một chóp loa là một màng giấy hình chóp nón (cone) kết quả màng giấy na2yse4 chuyển động theo và tác dụng như một chiếc bơm ép không khí với tần số 440 lần, tác dụng này tạo ra âm thanh và ta nghe được từ chiếc loa.
I. THÀNH PHẦN CẤU TẠO CỦA LOA
1. Magnet ( Khối nam châm)
Kích cỡ của khối nam châm cho biết có bao nhiêu từ lực (sức mạnh của từ trường) có thể dùng cho việc vận hành của chiếc loa, khối lượng nam châm càng lớn cho biết loa vận hành với cường độ cao và có nhiều năng lượng âm thanh hơn, nam châm lớn giúp cho sự giải nhiệt hoàn hảo khi chiếc loa vận hành ở cường độ âm thanh lớn nên chúng sẽ đắt tiền.
2.Voice coil (cuộn dây động lực):
Là một cuộn dây quấn trên một ống tròn bằng plastic hoặc nhôm, giấy hay bằng chất liệu sợi thủy tinh. Loai dây được dùng có thể bằng nhôm ( nhẹ dễ giải nhiệt) hoặc đồng ( dẫn điện mạnh hơn nhôm nhưng nặng hơn), có tiết diện mặt cắt dây hình tròn hay dẹp, cuộn dây được phủ keo cố định với lõi ống và là bộ phận chịu tải cao khi có dòng điện tín hiệu đi qua, kích cở của cuộn dây lớn và cấu tạo bằng sợi dây quấn tiết tiết diện lớn hơn cho ta biết loa chịu được công suất cao và phát ra âm thanh lớn. trong lúc hoạt động loa tỏa ra nhiều nhiệt và cần pah3i tiêu tán đi, sự tiêu tán phụ thuộc vào lõi cuộn dây bằng nhôm hay giấy, kích thước khối nam châm và khối sắt dẫn từ bao quanh.
3. Khe từ ( Gap ):
Khối nam châm được khối sắt kết hợp tập trung từ trường lại một khe rất hẹp, khe càng hẹp từ trường tập trung càng mạnh và cuộn dây động lực học được đặt vào khe từ hẹp để tạo ra lực đối kháng với nam châm thành chuyển động tới lui nếu khe từ quá hẹp, cuộn dây dễ chạm vào khối sắt chungquanh gây ma sát làm méo tiếng và nóng lên, nếu quá rộng lực từ rất yếu, loa  mất rất nhiều hiệu suất. Khe từ là một thành phần phải được làm chính xác, chống bụi tốt.
4. Các thỏi sắt dẫn từ lực ( Pole piece anh plates):
Là các thỏi sắt được dập hình học thích hợp để ghép với khối nam châm tạo thành đường truyền dẫn lực vào khe từ, đây cũng là bộ phận giải nhiệt sinh ra từ cuộn dây động lực khi hoạt động và tỏa nhiệt ra không khí.
5. Màng loa (cone):
Màng loa được làm bằng giấy hay một chất liệu đặc biệt tùy theo công dụng và giá tiền, nó được dán dính vào cuộn dây động lực tạo thanh một cái bơm ép không khí để phát ra âm thanh, thông thường màng lao càng lớn sẽ có nhiều tiếng trầm và cường độ âm thanh lớn.
6. Màng nhún (Surround):
Là bộ phận giữa chặt màng loa vào vành khung sắt cố định màng theo chiều ngang nhưng rất linh động theo chiều dọc, cũng là bộ phận kiểm soát dao động màng loa tới lui và dặt tắt các dao động của màng loa khi tín hiệu đổi cực tính, màng nhún được cấu tạo bằng chất liệu mút, cao su, vải hay giấy, rất đàn hồi.
7. Màng nhện (Spider):
Cấu tạo thường bằng vải ép với keo tạo thành những đường vòng đồng tâm rất linh động theo chiều dọc nhưng cố định theo chiều ngang, màng nhện được dán chặt với cuộn dây động lực  để cố định cuộn dây khi dao động trong khe từ, cũng là bộ phận kết hợp với màng nhún để dập tắt các dao động ngoài ý muốn trong khi loa chuyển động.
II. CÁC THAM SỐ CỦA LOA.
1. Những thuật ngữ chuyên môn.
1.1 Đáp tuyến tần số (Frequency response).
Đáp tuyến tần số âm thanh là phạm vi tần số âm thanh mà hệ thống loa có thể tái tạo lại một cách bằng phẳng và chính xác. Nó là sự thay đổi của tín hiệu ra loa trên phạm vi tần số.
Đáp tần được đo lường bằng cách đưa một nguồn tín hiệu có biên độ chuẩn vào một power ampli, tín hiệu lấy ra được đưa vào một loa hay một hệ thống loa, tần số được xác định theo Hert (Hz) có dải rộng từ 20Hz đến 20KHz là phạm vi có thể nghe của tai người mặc dù có nhiều người không thể nghe được các âm thanh tần số cao, trung bình con người bình thường có thể nghe phạm vi từ 30Hz đến 15KHz.
Âm thanh phát ra được ghi nhận và vẽ trên một trục tọa độ, nếu đáp tuyến này là đường thẳng, ta nói loa này có đáp tuyến phằng 20Hz đến 20KHz. Tuy nhiên trong thực tế không có đều này.
Một chiếc loa đơn không thể nào phát được âm thanh với dải tần đồng đều bằng phẳng từ 20Hz đến 2o KHz, đều này do cấu tạo vật lý của chiếc loa, chất liệu màng nhún, màng cone, độ dày và tr5ong lượng của các thành phần.
Thông thường mỗi chiếc loa có khả năng phát lại tốt nhất một khoảng tần số nào đó, cho nên để có thể tái tạo lại trung thực đáp tần đồng đều âm thanh, người ta chia đáp tần thành nhiều đoạn. Thấp (low) , Trung (mid), Cao (high) và chế tạo ra các chủng loại loa phát ra tốt ở các dải tần này, do đó có các chủng loại loa như sau:
-Loa bass: thường có đường kính lớn chuyên phát ra âm thanh ở dải tần thấp (low) như đàn guitar bass, trống kick, các âm dạng trầm.
-Loa mid: có đường kính trung bình phát ra âm ở dải tần trung như giọng nói, nhạc cụ, guitar solo.
-Loa treble: có đường kính nhỏ hy dạng còi dùng phát ra âm thanh tần số cao như sáo, Hi hat, cymbal, violin,
1.2 Dải động ( Dynamic range)
Dải động là sự chênh lệch giữa phần êm ái, nhỏ nhất với phần mạnh mẽ, chát chúa nhất tùy theo sự lựa chọn thể loại âm nhạc và tùy thuộc phần lớn nguồn tín hiệu âm thanh. Những thiết bị khuếc đại dạng chuyên nghiệp như: power, EQ, Mixer,…, cũng có thể nhận và truyền qua các tín hiệu có dải động rất rộng. Tuy nhiện thiết bị cuối cùng là Loa, Loa là phần hạn chế sự truyền đạt các mức dải động này. Một hệ thống loa xấu không thể truyền đạt hết các thành phần âm thanh có mức dải động rộng, kết quả cho ra âm thanh không trung thực. nếu loa tốt sẽ cho ra âm thanh tốt, trung thực ( những tín hiệu nhỏ và mạnh mẽ nhất đều được tái tạo rỏ ràng  mà không bị biến dạng-distortion).
1.3 Sự phát tán âm thanh ( sound dispersion):
Là góc độ phát ra âm thanh khi chúng rời khỏi loa. có loa phát tán rộng (wide), có loa phát tán hẹp (narrow). tai người phải nằm ngang với trục loa để nghe âm thanh rỏ nhất.
Sự phân tán âm thanh thay đổi ở các tần số âm thanh khác nhau, thông thường loa tản âm thanh đi khắp mọi hướng từ tần số thấp lên đến tần số mà ở đó ta có bước sóng của nó bằng với đường kính của màng loa, lúc này nó trở nên có tính định hướng với tần số cao ( có bước sóng ngắng hơn ).
Vận tốc âm thanh không khí khoảng 340m/s, sự giới hạn tần số tản hướng ( omnidirection ) có thể xác định bằng cách chia vận tốc âm thanh với đường kính của loa. Giới hạn tản hướng của loa 38cm (15″) là 880Hz. Tuy nhiên giới hạn này không chính xác, tùy theo chất liệu cấu tạo, kích thước hình học, hình dạng màng loa, kiểu kích thước thùng loa đều có ảnh hưởng nhiều đến độ phân tán âm thanh.
1.4 Độ nhạy (sensitivity).
Độ nhạy của loa là số đo mức âm thanh ra đối với công suất điện theo qui định ngã vào. Nhà sản xuất dùng một tần số đơn ( 1KHz) có công suất điện thích hợp (thường là 1m), đặc tính độ nhạy để chỉ hiệu suất phát âm thanh của loa hoặc cho biết sự chuyển đổi tín hiệu điện thành ra tín hiệu âm thanh tốt như thế nào. Cường độ âm thanh đo được tính bằng dB SPL 1W/1m. Loa phát được nhiều âm thanh với cùng một mức tín hiệu vào, cho thấy hiệu suất chuyển đổi của nó tốt hơn.
1.5 Sự giảm rung (Damping factor).
Sự chuyển động của màng loa phải thật khớp với tín hiệu đưa vào, bất cứ xu hướng nào của màng loa rung tại tần số không nằng trong tín hiệu đưa vào hoặc tiếp tục rung sau khi tín hiệu ngưng vào đã ngừng sẽ làm méo dạng âm thanh và ảnh hưởng đến chất lượng.
Loa có các bộ phận làm tắt dần sự rung động của màng loa.
-Chất liệu màng loa.
-Vành nhún (suspension).
-Màng nhện (spider).
-Nam châm.
Màng loa cứng không rung được đều đặn như màng loa mềm, tuy nhiên ở công suất cao và khi màng loa nén mạnh vào không khí, một màng loa mềm sẽ không đáp ứng đồng thời khi tín hiệu điện kích hoạt gây ra hiện tượng trễ và làm biến dạng âm thanh (distortion). Đường kính màng loa càng lớn âm thanh càng dễ bị biến dạng. Hầu hết các loa được chế tạo có màng loa tương đối cứng duy trì độ bền qua nhiều năm sử dụng.
Vành nhún và màng nhện giữ màng loa và khung loa, màng nhện được cấu tạo rất dẻo dai để sẵn sàng thích ứng với sự di động của màng loa, vành treo có thể được chế tạo cứng hay mềm độ cứng của vành treo được xem như tính dễ ép nén của nó. Tính chất linh hoạt và độ nhún sâu cạn ít nhiều liên quan đến dải tần phát của loa. Ở các loa phát tiếng trầm, độ mềm mại và độ nhún sây hay cạn được ứng dụng chế tạo các kiểu thùng loa loại kín hay có lổ thông hơi.
Kích thước và trọng lượng nam châm xác định biên độ tín hiệu âm thanh phát ra so với tín hiệu âm thanh vào, cũng là một yếu tố quan trọng làm giảm rung loa về mặt điện, nam châm nhỏ và yếu không cung cấp đủ từ lực đối kháng với cuộn dây (voice coil) nên hoạt động như 1 chiếc xe hơi có độ giảm xóc kém. Khi tín hiệu âm thanh đã ngừng tác động vào cuộn dây động và nếu cuộn dây này vẫn tiếp tục rung, từ trượng mạnh của khối nam châm sẽ hãm đi sự dịch chuyển này và dập tắt rung động ngoài ý muốn. Hệ số damping của các power ampli có các giá trị càng lớn, sự dập tắt các dao động điện càng mạnh.
Do vậy khi ta kết hợp các kiểu thùng loa có thiết kế tốt, âm thanh tạo ra từ loa sẽ hiêu quả hơn trung thực hơn.
II. CÁC KIỂU LOA
1. Loa dạng còi:
Là loại loa có vỏ bằng kim loại, có hình dạng cổ ngắn, dài tùy theo tần số phát và được chia thành như sau:
1.1 Loa phóng thanh
Dùng phá thanh ngoài trời hay những nơi công cộng, loại loa này muốn phát ở tần số thấp phải xác định chiều dài cổ còi cho phù hợp với tần số.
1.2 Loa bổng (Tweeter)
Dùng trong các thùng loa hi-fi để phát tần số trung hay tần số cao từ 1 KHz trở lên, do tần số trong phạm vi này có chiều dài bước sóng ngắn, quảng đường đi âm thanh ngắn nên cổ còi cũng có chiều dài ngắn và có dạng phảng quang.
Cấu tạo của các loa treble có dạng còi này cũng tương tự như nguyên tắc chung là dùng dao động của cuộn dây kết hợp với màng loa để ép nén không khí. Điều đặc biệt của loa treble khác với loa trầm hay loa trung là cuộn dây rung ( voice coil ) có kích thước lớn tương đương với màng loa đặt trong một buồn không khí rất hẹp để sự ép nén ép không khí cho sức nén cao, áp lực không khí đi qua một cổ họng hẹp và có một bộ phận gọi là khối chỉnh pha để dẫn không khí đi qua quảng đường đều nhau. Nếu không có khối chỉnh pha này đường dẫn không khí sẽ đi không đồng đều gây ra hiện tượng triệt pha làm suy giảm công suất và đáp tuyến ra không đồng đều.
1.2 Loa điện động ( electrodynamic speaker )
Phần lớn các loa sử dụng trong la thùng là loa điện động, chúng dùng nam châm và cuộn dây động để làm rung màng loa. Cấu tạo lại loa này rất kinh điển và không thay đổi bao nhiêu từ năm 1930 khi nó được phát minh ra. Loa điện động cũng có chia ra nhiều loại tùy theo dải tần phát, thường dễ nhận ra như loa phát tiếng trầm có đường kính lớn, loa phát tiếng bổng có đưởng kính nhỏ.
- Loa trầm ( wooofer ) :
Loa trầm tạo ra âm thanh có tần số thấp, thường hoạt động hiệu quả trong dải tần số từ 20Hz đến 1Khz, có thể mở rộng đến 3 Khz, đường kính loa từ 10cm đến 50cm.
- Loa trung
Loa trung tạo ra âm thanh phổ biến từ 1KHz đến 8KHz, phạm vi hiệu quả là từ 1KHz đến 4Khz, Loa trung tai1 tạo hiệu quả cho tiếng hát và giọng nói và hầu hết các nhạc cụ, đường kính loa từ 7cm đến 20cm, các loa này sử dụng màng loa bằng chất liệu giấy hay chất liệu PP để tái tạo âm thanh.
-Loa bổng ( Tweeter, Treble )
Loa bổng trong nhóm điện động có kích thước khá nhỏ thường dướ 5cm, cũng dùng chất liệu màng giấy hay plastic, các lao treble dạng này thường có màng giấy rất mỏng và nhẹ để phát được tốt tần số cao, phần sau lưng loa được bọc kín để tránh ảnh hưởng áp suất xảy ra bên trong thùng loa, tác động lên loa treble.
-Loa toàn dải ( fullrange )
Là loại loa được thiết kế để tái tạo lại đầy đủ hầu hết phổ âm thanh nghe được. Loa toàn dải thường được dung hòa các tính chất phát âm từ loa trầm đến loa treble vì nếu loa có đường kính lớn sẽ phát nhiều tiếng trầm, ngược lại nếu đường kính loa quá nhỏ thì tiếng treble chiếm ưu thế.
III. CROSSOVER TRONG THÙNG LOA
* Crossover là gì:
Nó là một bộ phân tần dùng để chia tần số . Một chiếc loa có thể tái tạo lại dãy tần số âm tần khá tốt vời âm thanh trong trẻo rỏ ràng không bị biến dạng và độ lớn của cường độ âm thanh cũng vừa đủ nghe, cộng với giá thành hạ. Tuy nhiên trên thực tế không có một chiếc loa nào đáp ứng được yêu cầu này. Ta cần ít nhất hai chiếc loa cho một hệ thống, có thể nhiều hơn nếu điều khiện cho phép. Một  loa woofer, một loa treble. Loa woofer có đường kính lớn tạo âm thanh trầm, Loa treble tạo âm thanh cao. ta gọi hệ thống này là 2-Way ( hai đường tiếng )
1.Passive Crossover ( Mạch chia tần số thụ động )
Mạch ( passive ) là loại mạch đơn giản nhất để chia cắt dãy tần số ra những đoạn thích hợp, mỗi đoạn chia cắt này sẽ đặt vào một chủng loại loa để tái tạo âm thanh tốt nhất mà chiếc loa có thể phát ra. Mạch thụ động không dùng bất cứ nguồn điện nào để hoạt động, nó thụ động bởi vì dùng nguồn tín hiệu trực tiếp vào power ampli sau khi qua các bộ phận cắt lọc dẽ cung cấp vào chiếc loa thích hợp.
Mạch chia đơn giản và thông dụng nhất chỉ gồm hai bộ phận chính:
- 1 tụ điện ( capacitor ) nối với loa tần số cao ( treble ). Tụ điện là một dụng cụ điện tử có khả năng truyền qua các tín hiệu có tần số cao và ngăn chặn các tín hiệu tần số thấp (high-pass).
- 1 cuộn dây ( inductor ) nối với loa trầm ( bass ). nó cho qua các tín hiệu tần số thấp và ngăn chặn chặn lại các tín hiệu tần số cao ( low-pass).
Sự ngăn chặn và cắt các tần số này không diễn tiến dứt khoát nó biến thiên theo mức độ giảm dần theo mỗi bát độ ( octave), sự suy giảm này bắt đầu xảy ra xảy ra theo một đường dốc gọi là ( crossover-slope, đường dốc cắt ), được đo đạt bằng dB trên mỗi octave gọi tắt là dB/oct.
Đường dốc cắt này có thể thật dốc ( nhiều dB/ otc ) hoặc hơi lài nghiêng thoai thoải ( ít dB/otc).
Một cách dễ hiểu: 1 tụ điện hay 1 cuộn dây đặt vào mạch sẽ tạo đường dốc cắt là: 6dB/otc và cứ thế nếu thêm vào 2 tụ hay 2 cuộn dây đường đốc sẽ là: 12dB/otc, 3 là 18dB/ otc, 4 là 24db/otc.
Số dB/ otc càng lớn ( hay cấp phân chia lớn), sự điều khiển vận hành loa sẽ tốt hơn.
Ta có thể tính toán để tạo ra một hệ thống 2 đường tiếng hoặc 3 đường tiếng nhằm cung cấp các dãy tần số cho loa bass, loa trung, loa treble.
Mục đích đầu tiên của mạch phân tần là: cung cấp tần số cao cho loa treble, tần số thấp cho loa bass, tân số trung cho loa midle.
Nhưng mục đích thực tế nhất là: bảo vệ loa treble không bị quá tải ở tần số thấp, không có bộ lọc phân cách loe treble dễ bị cháy.
1.1. Linh kiện dùng cho mạch lọc :
Các linh kiện dùng cho mạch gồm tụ điện và cuộn cảm, cần chọn các linh kiện có độ chính xác và bền vững khi hoạt động sẽ tránh được nhiều sự cố phiền hà.
- Tụ điện:
Có 2 linh kiện tụ điện thường gặp là tụ hóa không cực tính (non polar) và tụ điện môi rắn (polystyren, mylar), so với tụ hóa tụ điện môi rắn đa số hoạt động ổn định hơn, nó có dung kháng thuần túy ở các tần số cao. Khi chọn điện áp làm việc của tụ, nên chọn loại có điện áp đánh thủng trên 50v ( nếu loa hifi dùng trong gia đình)  và trên 100v nếu dùng trong hệ thống loa chuyên nghiệp.
-Cuộn cảm:
Cuộn cảm dùng để ngăn chặn tần số cao và cho tần số thấp đi qua ( cách tính trị cuộn cảm và phương pháp thực hiện rất phức tạp), cần tham khảo các đặc tính của nơi sản xuất và cũng nên nhớ rằng ( cuôn cảm khi nối tiếp với loa trầm sẽ làm giảm hệ số damping của power ampli ) và khi hoạt động với công suất cao sẽ có nhiều tác động không tốt xảy ra, chiếc loa xem nối với một power amp có hệ số damping thấp và sự dao động tăt dần của màng loa không được dập tắt triệt để. cần chọn loại cuộn cảm được quấn bằng cỡ dây quấn kích thước lớn nhằm mục đích giảm trị số Ohm DC của nó.
Cuộn cảm có hai loại được quấn trên lõi không khí hay lõi sắt, cuộn cảm quấn trên lõi sắt gây nhiều vấn đề về méo âm thanh do đặc tính từ trễ của nó, cuộn cảm lõi không khí ít ảnh hưởng hơn tuy nhiên phải quấn nhiều vòng dây hơn khi so sánh với cuộn lõi sắt có trị số tương đương.
1.2. Các vấn đề về mạch chia tần số thụ động ( passive crossover ):
Vấn đề lớn nhất của mạch tần số thụ động là: một thùng loa hay một cặp loa không thể cho âm thanh lớn và trong trẻo khi đặt nó trong không gian rộng. Thường hay dùng trong phạm vi nhỏ chỉ sử dụng một cặp loa và một ampli. ta cũng có thể gặp mạch này trong các hệ thống loa Monitor bởi tầm hoạt động của nó ngắn và công suất không lớn. Vì nếu dùng quá lớn sẽ gây feedback với microphone hoặc nghe trộn lẫn thành một thứ âm thanh tổng hợp với hệ thống loa chính ( FOH ). ta cũng không thể đem loa monitor dùng mạch passive crossover vào thực hiện âm thanh chính trong các night club, ta chỉ nghe được âm thanh yếu ớt.
tất cả những vấn đề trên không kể cuộn dây trong mạch passive crossover khi hoạt động ở cường độ cao, sẽ nhanh chóng bị bão hòa từ làm âm thanh bị distortion.  
2. Active Crossover ( mạch chia tần thích hợp ).
Mạch này phải có nguồn điện cung cấp để hoạt động, nó thường được lắp vào một cấu trúc 1 U( Unit: đơn vị không gian của bề dày các thiết bị âm thanh lắp vào trong kệ máy). Loại này khi cần tách tần số thành hai đường tiếng ( 2-way ) ta phải cần đến 2 cái power ampli. Nếu hệ thống loa ( 3 way ), ta cần tới 3 ampli power cho 3 đường tiếng khác nhau.
Mạch này cắt tần số chính xác, độ dốc khi cắt các dãy tần thực hiện hoàn hảo hơn với biên độ xử lý tín hiệu thấp. Không làm suy giảm năng lượng của power.
Active crossover còn cách gọi khác là mạch chia tần số điện tử, nó xử lý các tín hiệu trước các power  ampli, nhận tín hiệu nhỏ từ mixer xuống qua các bộ phận điện tử tách chúng ra thành các dãy tần số khác nhau, mỗi dãy này được các power riêng biệt khuếch đại lên và truyền tải đến loa. Nếu mạch active crossover dùng cho hệ thống loa 2-way còn được gọi là bi-amp, trong hệ thống 3 way gọi là: tri-amp

Liên hệ:

Trung Tâm Âm Thanh Ánh Sáng Nụ Cười

điện thoại : 090.378.9478 

Địa chỉ: 1078/10C Lê Văn Lương, Phước kiển, Nhà bè. Tp.HCM

Email: osmile.nucuoi@gmail.com

Web: www.nucuoi.com

http://vatgia.com/amthanhanhsangnucuoi

https://www.facebook.com/CongTyNuCuoi

https://www.facebook.com/namngonnhat

http://www.namngonnhat.com/

Số tài khoản:  210914851149290 Ngân hàng:  Eximbank chi nhánh Bùi Thị Xuân  , Q.1, tp. HCM

Chủ tài khoản:  Hộ kinh doanh cửa hàng Nụ Cười

 
Người viết : nucuoi